Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Những hệ lụy do thiếu i

Tuyến giáp có chức năng tạo ra các hormon tuyến giáp cho máu và chuyển tới các tế bào trong cơ thể. Hormon tuyến giáp giúp cơ thể dùng năng lượng, giữ ấm và giúp não bộ, tim, cơ bắp và các cơ quan hoạt động bình thường. Nếu không có đủ i-ốt, có thể sẽ không thể tạo đủ hormon tuyến giáp.

Hệ lụy do thiếu hụt i-ốt

Tất cả các hệ lụy do thiếu hụt i-ốt đều liên quan đến tuyến giáp:

Bướu cổ: Nếu không có đủ i-ốt, tuyến giáp sẽ bị phình dần lên (phát triển thành bướu cổ), bởi vì lúc thiếu i-ốt, tuyến giáp phải hoạt động nhiều hơn để phục vụ nhu cầu sản xuất hormon tuyến giáp. Trên thế giới, thiếu hụt i-ốt là nguyên nhân phổ biến gây phình tuyến giáp và bướu cổ. Khi bị bướu cổ, các nốt tuyến giáp sẽ to hơn, do vậy, người bị bướu cổ có thể bị nghẹt thở, nhất là nằm sấp, khó nuốt và khó thở.

Suy giáp: Hàm lượng i-ốt trong cơ thể giảm xuống sẽ dẫn đến suy giáp, vì i-ốt rất cần yếu cho việc sản xuất hormon tuyến giáp. Mặc dù tình trạng này không phổ biến ở Mỹ, nhưng thiếu i-ốt vẫn được coi là nguyên do phổ biến dẫn đến bệnh suy giáp trên toàn thế giới.

Những hệ lụy do thiếu i-ốt gây ra.Những hệ lụy do thiếu i-ốt gây ra.

Các vấn đề có liên quan đến thai kỳ: Thiếu hụt i-ốt nhất là nghiêm trọng đối với phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú. Thiếu i-ốt trầm trọng tại người mẹ có liên quan đến sẩy thai, thai chết lưu, sinh non và khuyết tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. Trẻ có mẹ bị thiếu i-ốt nặng trong thai kỳ có thể bị khuyết tật trí tuệ và có rất nhiều khiếu nại về tăng trưởng, khả năng ngôn ngữ và thính lực. Thậm chí thiếu i-ốt nhẹ trong thời kỳ mang thai cũng có thể làm trẻ kém thông minh. Ở dạng nghiêm trọng nhất, tuyến giáp hoạt động kém có thể dẫn đến chứng mất trí (một hội chứng có đặc trưng là tổn thương não vĩnh viễn, khuyết tật trí tuệ, điếc, triệu chứng co thắt và thấp còi). Suy giáp bẩm sinh do thiếu hụt i-ốt là nguyên nhân phổ biến dẫn tới khuyết tật trí tuệ trên toàn thế giới mà có thể bộ phận ngừa được.

Làm thế nào để chẩn đoán thiếu hụt i-ốt?

Thiếu i-ốt được chẩn đoán trên toàn bộ cộng đồng chứ không tại mức độ từng cá nhân. Vì i-ốt được giải phóng từ trong cơ thể bệnh nhân thông qua nước tiểu nên cách tốt nhất để xác định thiếu i-ốt trên một quần thể dân số lớn là đo lượng i-ốt niệu. Thiếu i-ốt được định nghĩa là nồng độ i-ốt niệu trung bình trong tất cả quần thể nhỏ hơn 50microgam/L.

Trong hai thập kỷ qua, Hoa Kỳ được đánh mức chi phí là quốc gia có đủ i-ốt, mặc dù có nghiên cứu chỉ ra rằng hàm lượng i-ốt niệu đã sụt giảm khoảng 1 nửa trong những năm 1970 và đầu những năm 1990. Tuy nhiên, ở những nơi khác trên thế giới, như 1 số khu vực ở châu u, châu Phi và châu Á, thiếu hụt i-ốt vẫn là 1 khiếu nại nghiêm trọng.

I-ốt được phân phối từ những nguồn nào?

I-ốt tồn tại ở dạng tự nhiên trong đất và nước biển. Hàm lượng i-ốt trong thực phẩm ở những vùng khác nhau trên thế giới thì cũng khác nhau. Người dân tại Mỹ có thể nhận đủ lượng i-ốt cần phải có từ chế độ ăn uống hàng ngày do sử dụng muối i-ốt (trừ khi họ phải hạn chế lượng muối trong chính sách ăn), hoặc nhờ sử dụng loại thực phẩm có hàm lượng i-ốt cao, đặc biệt là các sản phẩm từ sữa, hải sản, thịt, bánh mì, trứng và uống vitmain tổng hợp có chứa i-ốt.

Điều trị thiếu hụt i-ốt

Giống như với căn bệnh khác, với chứng thiếu hụt i-ốt thì phòng bệnh vẫn hơn chữa bệnh. Trong vòng 80 năm qua, trên toàn thế giới đã có không ít nỗ lự nhằm chấm dứt sự thiếu hụt i-ốt và việc chấm dứt hoàn toàn thiếu hụt i-ốt là 1 chỉ tiêu nhu yếu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Muối i-ốt là trụ cột chính trong điều trị thiếu i-ốt trên toàn thế giới, kể cả tại Mỹ. Biện pháp bổ sung i-ốt vào dầu ăn đã được vận dụng ở một số nơi trên toàn cầu lúc không thể bổ sung i-ốt về muối. Bổ sung i-ốt vào nước cũng đem lại hiệu quả tại 1 số nơi.

BS. Lan Hương

((Theo Hiệp hội Tuyến giáp Hoa Kỳ))

0 nhận xét:

Đăng nhận xét