This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Bệnh ngứa liên quan đến tâm lý tâm thần

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường nghe câu “ngứa như điên”, “ngứa phát rồ phát dại”... hay “gãi đúng chỗ ngứa”... Có thể nói, ngứa gây nên các rối loạn tâm thần tâm lý nhưng gãi đúng chỗ ngứa cũng tạo ra khoái cảm, vì vậy gãi ngứa cũng có thể gây nghiện như các chứng nghiện khác.

Cảm giác ngứa

Đa phần ngứa tại mức độ vừa hoặc trầm trọng đều xuất phát từ bệnh thực tổn như bệnh suy thận mạn, bệnh gan mật, bệnh u limphô hodgkin... nhưng người ta thấy các nhân tố tâm lý cảm xúc thường đi kèm trong các loại ngứa.

Cần Quan tâm đến nhân tố tâm lý khi bệnh nhân bị ngứa.

Cần chú ý tới nhân tố tâm lý lúc bệnh nhân bị ngứa.

Giống như cảm giác đau, cảm giác ngứa mang tính cá thể đánh tráo rất khác nhau ở mỗi người. Cường độ ngứa cũng đánh tráo trong ngày. Ngứa tăng nhiều vào cuối ngày hay ban đêm, ngứa làm cho bệnh nhân mất ngủ, mất ngủ lại kích thích ngứa tăng lên làm bệnh nhân càng gãi nhiều, gãi nhiều lại càng mất ngủ... điều này tạo ra vòng luẩn quẩn khó thoát. Khi các hoạt động trong ngày giảm đi, khi nghỉ ngơi dường như hệ thần kinh nhạy cảm hơn với việc tiếp nhận các kích thích ở da, giống như cảm giác đau thường nâng cao về đêm...

Người ta thấy có không ít loại ngứa có Xuất xứ tâm sinh, 50% các loại ngứa mạn tính không kết hợp với 1 bệnh lý da và không có nguyên do rõ ràng. Nhưng ngay cả khi ngứa có Xuất xứ căn nguyên thực tổn thì các nhân tố tâm thần, tâm lý luôn đi kèm theo. Cảm giác ngứa nâng cao lên trong các tình huống stress hay trong trường hợp trầm cảm lo âu. Trường hợp ngứa mạn tính với cường độ mạnh mang lại cho bệnh nhân 1 cảm giác như sống trong địa ngục, mất ăn mất ngủ và tiện dụng dẫn tới cáu kỉnh, kích động, trầm cảm... Do vậy, việc điều trị phải toàn diện cả thể chất và tâm thần...

Các kiểu tiến triển của ngứa rất đa dạng, mối liên quan giữa nhân tố tâm lý và thực tổn cũng khá phức tạp. Khi ngứa càng kéo dài thì các rối loạn tâm thần tâm lý càng rõ rệt. Yếu tố tâm lý ít biểu hiện hơn khi ngứa là 1 triệu chứng của bệnh thực tổn. Nhưng trong trường hợp suy thận thường gây gãi ngứa và khi có trầm cảm kèm theo thì việc gãi ngứa tăng lên gấp bội.

Trong thực tế, nhiều trường hợp ngứa do nguyên do thần kinh tâm lý là cốt yếu như trường hợp viêm da thần kinh, chỉ lúc điều trị các rối loạn tâm lý tốt thì chứng viêm da thần kinh mới khỏi. Khi ngứa kéo dài mạn tính từ 10 - 20 năm thì hành vi gãi sẽ trở nên 1 hành vi tự động hóa mang tính xung động rất khó từ bỏ và bệnh nhân dường như nghiện gãi vì khi này gãi có tính chất gây khoái cảm.

Hơn nữa, người ta nhận thấy hệ thần kinh và da có cùng một nguồn gốc phát triển từ trung bì trong thời kỳ bào thai do vậy điều này lý giải tại sao các tổn thương ở da lại có nguồn gốc từ hệ thần kinh và ngược lại...

Cải thiện bằng cách nào?

Trầm cảm có thể là nguyên nhân gây ngứa, thậm chí là yếu tố cần phải có trong việc khởi phát bệnh và làm cho bệnh dai dẳng, trầm trọng. Nhưng đôi lúc các bác sĩ lại không đánh giá tầm thiết yếu của nhân tố tâm thần tâm lý trong chẩn đoán và điều trị nên kết quả điều trị không như mong muốn. Nếu ngứa do nguyên nhân trầm cảm thì cần kê thuốc chống trầm cảm với liều tối ưu và chỉ cần khoảng đủ dài để tránh trầm cảm và ngứa diễn tiến kéo dài. Khi điều trị, cần kết hợp điều trị thuốc chống trầm cảm với các trị liệu tâm lý như các liệu pháp thư giãn... và có thể kết hợp với mát-xa để nâng cao hiệu quả điều trị.

Gãi ngứa đôi khi cũng là Xuất xứ gây khoái cảm, nên chính hành vi này lại làm cho ngứa kéo dài và gây các tổn thương mạn tính trên da, cho nên việc điều trị cần phải kết hợp các thuốc chống trầm cảm làm giảm các hành vi xung động, song song thuốc lại có tính chất giảm lo âu gây ngủ và kết hợp với các liệu pháp hành vi thì mới có kết quả tốt. Người ta cũng thấy rằng, lúc các rối loạn tâm thần và tâm lý do ngứa gây ra cho dù có điều trị khỏi nhưng có thể dễ tái phát khi bệnh nhân gặp stress...

Ngay cả trường hợp ngứa không có trầm cảm thì các liệu pháp tâm lý cũng sẽ nỗ lự cảm giác ngứa cũng như hành vi gãi ngứa. Trong thực tế, trường hợp bị ngứa nhiều có tính chất mạn tính và kéo dài trầm trọng như trong trường hợp viêm da cơ địa thì bệnh nhân có thể có những hành vi tự tấn công hay tấn công người khác trong khi căng thẳng. Ví dụ, có người lấy nước nóng hay nước đá áp vào chỗ ngứa, như vậy dễ gây tổn thương da, nhất là là những vùng da nhạy cảm. Khi điều trị rất tốt về tâm lý thì việc sử dụng các thuốc nhóm corticoid cũng được giảm đáng kể và giảm được các tác dụng phụ do thuốc...

Đối với người già có sự đan xen phức tạp giữa yếu tố thực tổn và tâm lý nên cảm giác ngứa đóng vai trò như 1 kích thích giác quan. Ở trẻ nhỏ, người ta thấy hành vi cào cấu gãi ngứa có trị giá như vậy như hành vi tự tấn công diễn ra với những đứa trẻ thiếu thốn tình cảm. Và hơn nữa, người ta còn thấy ngứa luôn có nguyên nhân thực tổn ở trẻ em và hành vi gãi ngứa cũng đóng vai trò hành vi vô thức biểu hiện rối loạn trong mối quan hệ giữa mẹ và con...

Có trường hợp các triệu chứng ngứa lại miêu tả rầm rộ tới mức che lấp các triệu chứng điển hình khác của trầm cảm, gây khó khăn cho chẩn đoán giống như trong trường hợp trầm cảm ẩn... Đặc biệt với các bác sĩ da liễu thường có lo sợ bỏ quên một bệnh lý thực tổn trầm trọng liên quan tới ngứa. Nhưng đôi khi chính họ lại ít quan tâm tới các nhân tố tâm lý khi bệnh nhân bị ngứa nên kết quả điều trị chưa được như mong muốn.

BS. Lê Đào Nghĩa

 




 

Nhận biết và xử trí tình trạng cơ thể giữ nước

Giữ nước có thể xảy ra lúc chúng ta ăn một bữa ăn mặn, nhưng cơ thể thường tự hồi phục được. Tuy nhiên, nếu như bạn liên tục nhận thấy cơ thể có các dấu hiệu giữ nước, điều đó có thể là do bạn đang bị chứng phù nề. Điều cần thiết là phải nhận biết dấu hiệu giữ nước bất thường và thảo luận với bác sĩ để tìm hướng xử trí.

Các dấu hiệu cơ thể bị giữ nước

Bạn không nên bỏ qua dấu hiệu giữ nước, vì theo thời gian, tình trạng này có thể dẫn đến suy thận hoặc suy tim. Dưới đây là 1 số dấu hiệu giữ nước cần lưu ý:

Tăng trọng lượng nhanh: Nếu bạn nhận thấy sự gia nâng cao trọng lượng nhanh, điều này có thể là do cơ thể bạn đã bắt đầu giữ lại nhiều nước hơn mức cần thiết.

Nhận biết và xử trí tình trạng cơ thể giữ nướcTập thể dục là cần thiết để kích thích hệ thống tuần hoàn và ngăn chặn giữ nước trong cơ thể.

Sưng các khớp: Một dấu hiệu giữ nước là sưng khớp, cũng có liên quan đến sự gia nâng cao trọng lượng do nước ứ trong cơ thể. Sự tích tụ nước cũng có thể ảnh hưởng tới chức năng cơ và gây ra yếu và đau cơ. Bạn có thể có những điểm căng cơ trên chân tay, khó đi bộ và thậm chí có tình trạng cứng một số khớp.

Tăng nhịp tim: Chính tình trạng giữ nước làm cho tim khó bơm máu đến toàn bộ các bộ phận của cơ thể. Điều này thường diễn ra khi chân và tay của bạn sưng lên do nước giữ lại. Giữ nước chân tay gây tăng áp lực ngoại vi và cản trở hoạt động co bóp tống máu của trái tim và thường làm cho bạn cảm thấy rằng nhịp tim đang nâng cao lên. Theo thời gian, tình trạng này có thể dẫn tới tổn thương tim và các mạch máu.

Chú ý đến sự đổi màu da: Giữ nước làm ảnh hưởng tới dòng máu. Bạn có thể tiếp nhân thấy rằng có tình trạng đỏ da ở một số khu vực và có những đốm nhợt nhạt trên da tại các khu vực khác của cơ thể, chủ yếu do giữ nước làm lưu thông máu bị rối loạn. Nếu bạn bấm vào da, bạn có thể tiếp nhân thấy một vết lõm để lại lâu trên da.

Có tình trạng khó thở: Phù có thể dẫn đến sưng tấy các tổ chức mô trong cơ thể, phù cũng có thể ảnh hưởng đến các mô trong phổi và dẫn đến khó thở. Chất lỏng bổ sung có thể tích tụ trong phổi của bạn càng làm gia nâng cao khó thở. Khò khè, khàn giọng và ho là 1 số dấu hiệu cho thấy có thể có dư thừa nước trong các bộ phận hô hấp.

Làm thế nào để nhận biết cơ thể giữ nước?

Kiểm tra cẳng chân, bàn tay, bàn chân và mắt cá của bạn bất kỳ dấu hiệu sưng nề. Giữ nước thường ảnh hưởng tới những vùng này đầu tiên.

Đột nhiên bạn nhận thấy nhẫn đeo phát triển thành bó chặt có thể cho thấy bàn tay bị sưng. Vòng đeo cổ tay và đồng hồ đeo tay cũng đem đến những gợi ý tương tự.

Kiểm tra xem bạn có một vòng lõm quanh cẳng chân của bạn sau lúc gỡ bỏ tất (vớ) đi giày ra. Điều quan trọng là phải đảm bảo rằng bạn đang sử dụng kích cỡ tất thích hợp và không bó chặt ngay ban đầu.

Nhấn vào bất kỳ vùng sưng lên nào trên cơ thể và sau đó thả ngón tay ra. Bạn có thể bị phù nề ví dụ vết lõm vẫn tồn ở ở đó trong vài giây.

Đứng trước gương và kiểm tra xem khuôn mặt của bạn có bị sưng lên hay không. Sưng mặt có thể là dấu hiệu giữ nước.

Xử trí và phòng giữ nước của cơ thể

Để tránh giữ nước, bạn nên sử dụng 8 ly nước và chất lỏng mỗi ngày. Bạn cũng có thể Quan tâm đến màu nước tiểu, bạn cần uống nhiều hơn nếu nước tiểu có màu vàng và cô đặc. Bạn có thể cần uống nhiều nước hơn ví dụ bạn có lối sống năng động bởi vì vận động có thể đổ mồ hôi và mất nước một cách nhanh chóng. Bạn phải nhớ rằng cơ thể bạn có hiện tượng phản ứng giữ nước nếu như bạn bị mất nước. Vì vậy, bạn nên uống nước trái cây, nước lọc, trà thảo dược cũng như 1 đồ uống không chứa caffein để giữ đủ nước cho cơ thể. Tránh xa rượu và đồ uống chứa caffein vì dễ gây mất nước.

Hạn chế lượng natri (muối): Bạn sẽ tăng trọng lượng nếu như thức ăn của bạn chứa nhiều natri. Vì vậy, bạn nên giảm thiểu lượng natri và tránh thực phẩm chế biến sẵn, đồ mặn. Tránh thêm muối vào bữa ăn đã nấu chín và đã dọn ra bàn. Ngoài ra, nâng cao cường các loại rau tươi cũng như các loại protein, ngũ cốc và các sản phẩm sữa ít béo. Khuyến cáo không sử dụng quá một muỗng cà phê muối ăn trong 1 ngày.

Có chế độ ăn uống cân bằng: kết hợp giữa rau, ngũ cốc nguyên hạt, hoa quả và các thực phẩm giàu chất xơ khác. Hãy chắc chắn có 06 phần ăn của ngũ cốc cùng với 04 phần ăn của rau mỗi ngày. Bạn cũng nên ăn 04 phần trái cây mỗi ngày, nhưng hãy chắc chắn ăn nhiều loại trái cây có màu sắc khác nhau.

Tập thể dục hàng ngày: Bạn không phải bỏ ra hàng giờ đồng hồ trong phòng tập thể dục, bạn chỉ cần tập luyện kéo dài 20 - 30 phút với bài tập cường độ vừa phải hàng ngày là đủ để duy trì sức khỏe. Bạn cũng có thể đi bộ đường dài hoặc đi bộ với bạn bè, đi xe đạp, chạy bộ hoặc bơi để giữ cơ thể khỏe mạnh.

Đặt chân lên cao: Bạn có thể bị sưng chân do đứng quá nhiều giờ. Để giảm sưng và ngăn ngừa giữ nước, bạn có thể nâng chân cao lên trong 1 thời gian. Bạn cần được giữ cho bàn chân cao hơn mức tim để giúp chất lỏng dễ thoát khỏi chân và trở vào tim dễ dàng hơn.

BS. Nguyễn Hải Lê

Phòng ngừa chứng say nắng ở trẻ em

Những dấu hiệu trẻ bị say nắng

Khi cơ thể bị nóng quá mức, cửa hàng điều hòa nhiệt độ ở thân não ứng biến bằng cách tiết mồ hôi để hạ bớt sức nóng của cơ thể. Tuy nhiên đối với trẻ em, cửa hàng này chưa phát triển hoàn chỉnh nên sự giải nhiệt không tốt, khiến trẻ rất dễ bị say nắng lúc cơ thể phải phơi nắng quá lâu. Nếu không cấp cứu kịp thời, trẻ có thể tử vong. Những dấu hiệu gợi ý sau đây báo hiệu trẻ đang bị say nắng:

- Mệt mỏi, mắt lờ đờ.

- Cơ thể nóng ran, mặt đỏ gay, thân nhiệt lên đến 410C.

- Trẻ than đau đầu, chóng mặt, hoa mắt.

- Trẻ có giác buồn nôn, ói mửa.

- Một số trẻ có thể bị ngất xỉu.

- Nhịp thở yếu, nhanh.

- Mạch nhanh yếu, khó bắt, hoặc thậm chí không bắt được mạch.

- Trường hợp say nắng nặng, trẻ sẽ hôn mê hoàn toàn và lên những cơn co giật.

Phòng ngừa chứng say nắng ở trẻ emNên cho trẻ uống nhiều nước khi đi ra ngoài trời nắng nóng

Sơ cứu đúng cách

Khi trẻ bị say nắng, cần nhanh chóng tìm phương một thể đưa trẻ đi cấp cứu ở một cơ sở y tế gần nhất để đảm bảo sự an toàn cho trẻ. Trong lúc chờ đợi, phụ huynh phải thật bình tĩnh thực hiện ngay 1 số biện pháp sau đây:

- Nhanh chóng đưa trẻ đến chỗ thoáng mát như phòng thông gió, hành lang có mái che hoặc dưới tán cây có rất nhiều bóng mát.

- Cởi hết quần áo trẻ giúp trẻ “hạ nhiệt” và dễ thở.

- Dùng khăn thấm nước mát đắp lên đầu, lên trán trẻ để giải nhiệt.

- Dùng một khăn khác, cũng thấm nước mát, lau nhẹ nhàng mình mẩy, chân tay của trẻ.

- Cho trẻ uống nước đầy đủ (nước trái cây, nước khoáng, hoặc nước đã đun sôi để nguội). Cho trẻ uống thật từ từ, từng chút 1 để tránh làm cho trẻ bị nôn.

Những biện pháp kể trên cũng cần được tiếp tục thực hiện trong xe trên đường đến bệnh viện vì chúng rất hữu ích cho việc xử trí say nắng tiếp nối lúc trẻ tới bệnh viện.

Giờ nắng nóng cao điểm từ 11h trưa tới 4h chiều

Phòng ngừa chứng say nắng

Với trẻ em, nên cho trẻ uống nhiều nước lúc đi ra ngoài trời nắng nóng vì trẻ sẽ bị đổ mồ hôi nhiều và cơ thể rất dễ bị mất nước, trẻ còn bú mẹ nên cho trẻ bú mẹ càng nhiều càng tốt, nhất là là những trẻ phải luyện tập thể lực hoặc tham dự các trò chơi vận động ngoài trời thì lượng nước mất sẽ nhiều hơn như vậy cần cho trẻ uống nước ngay cả lúc trẻ chưa cảm thấy khát.

Hạn chế tối đa việc cho trẻ đi ra ngoài đường trong giờ nắng nóng cao điểm từ 11h trưa tới 4h chiều. Và lúc đi ra nắng, hãy đảm bảo toàn cơ thể của trẻ cần phải che nắng kín đáo như mặc áo dài tay, quần dài cho trẻ, đeo khẩu trang và đội mũ rộng vành cho trẻ để giảm thiểu tác hại sức nóng của ánh nắng mặt trời.

Lời khuyên của thầy thuốcCần tránh đột ngột sự tiếp xúc với nắng nóng. Không nên để trẻ quá gắng sức khi luyện tập thể lực hoặc chơi đùa ngoài nắng. Khi trẻ cảm thấy mệt mỏi, ra mồ hôi quá nhiều nên khẩn trương đưa trẻ về chỗ râm mát để nghỉ ngơi.Mặc cho trẻ quần áo thoáng, mát, màu nhạt để dễ thấm mồ hôi và thoát nhiệt, và giúp tránh hấp thụ nhiệt từ môi trường.

ThS.BS. ĐINH THẠC

Nhận biết sớm trẻ mắc tật khúc xạ

Tật khúc xạ (TKX) là từ chung chỉ các tật cận thị, viễn thị và loạn thị của mắt, trong đó chủ yếu là cận thị chiếm tỉ lệ khá cao trong cộng đồng. Theo các điều tra ở một số trường học tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, tỉ lệ cận thị là sắp 30%. TKX diễn ra tại mọi lứa tuổi, trong đó phần lớn là trẻ em (chiếm >70%). Đây là 1 nguy cơ rất lớn gây ảnh hưởng tới việc học tập, công tác cũng như các sinh hoạt thông thường hàng ngày của trẻ.

Các tật khúc xạ thường gặp

Khi ta nhìn đồ vật thấy rõ nét, tức là mắt bình thường, khi đó đồ vật sẽ hiện đúng trên võng mạc của mắt. Khi mắt bị TKX tức là mắt có thiếu sót ở các thành phần quang học (như giác mạc, thể thủy tinh) làm cho ánh sáng đi về mắt qua các thành phần này không tạo thành tiêu điểm rõ nét trên võng mạc, như vậy, mắt bị TKX nhìn đồ vật sẽ bị nhòe, mờ, không rõ nét.

Tư thế ngồi học không chín xác khiến trẻ sớm mắc các tật khúc xạ.

Cận thị là khi các tia sáng từ xa tới mắt hội tụ tại trước võng mạc (thay vì đúng trên võng mạc). Mắt cận thị nhẹ thường nhìn sắp vẫn bình thường, nhưng nhìn xa không rõ. Cận thị có thể đơn độc hoặc kèm theo loạn thị.

Viễn thị là khi các tia sáng từ xa đến mắt hội tụ ở sau võng mạc (thay vì đúng trên võng mạc). Mắt viễn thị nhẹ có thể nhìn thông thường nhưng thường bị mỏi mắt do điều tiết. Nếu viễn thị nặng thì nhìn các vật tại cả xa và gần đều mờ. Viễn thị có thể kèm theo loạn thị.

Loạn thị là lúc các tia sáng đến mắt không hội tụ ở 1 điểm mà ở nhiều điểm không như nhau trên võng mạc (thường là do giác mạc có độ cong không như nhau giữa các kinh tuyến làm cho giác mạc không phải là dạng chỏm cầu thực sự). Mắt loạn thị nhìn vật bị mờ và biến dạng. Loạn thị có thể phối hợp với cận thị hoặc viễn thị.

Dấu hiệu nhận biết sớm

Do những thói quen xấu như tư thế ngồi học không đúng, cúi quá gần sách vở; do ánh sáng không đầy đủ; chương trình và giờ học càng ngày càng tăng; trẻ em nhất là là những trẻ ở thành phố ngày một được sớm tiếp cận với những trò chơi trên máy tính; các bậc cha mẹ chưa có thái độ đúng đắn và chưa thực sự chú trọng đến những tác hại của những vấn đề trên.

Khi có TKX, trẻ thường không nhìn rõ các vật tại xa, như đi học không nhìn rõ hoặc hay nhầm lẫn chữ viết trên bảng, khi xem tivi thường hay nheo mắt hoặc phải lại gần mới xem rõ.

Khi có những biểu hiện đó cần cho trẻ đi khám bác sĩ sớm. Nên cho trẻ kiểm tra thị lực trước tuổi tới trường để phát hiện sớm TKX và các bất thường khác tại mắt.

Khắc phục cách nào?

Cần bàn học vừa với kích thước cơ thể của trẻ (ở những trường có từ cấp I đến cấp II thì trẻ lớp một ngồi chung bàn với trẻ lớp 9, tương tự sẽ không chuẩn với tiêu chuẩn); lúc làm việc gần (như đọc sách, học bài) cần có khoảng cách phù hợp (khoảng cách từ mắt đến sách đọc khoảng 30 - 40cm là tốt nhất). Nơi trẻ học cần đủ ánh sáng và phải có sự phân bố và cường độ tốt, không gây lóa mắt; ngoài sự chiếu sáng trong phòng nên có 1 ngọn đèn bàn đặt phía bên tay trái (nếu thuận tay phải và ngược lại); không đọc sách trong bóng tối hoặc ngồi trước máy vi tính quá nhiều vì sẽ dẫn đến mỏi mắt; chữ viết trên bảng cũng như chữ in trong sách phải rõ ràng, bảng và giấy không quá bóng, gây mỏi mắt; trẻ sẽ được khuyên nên đeo kính khi đọc sách hay không tùy trường hợp; trong lớp, trẻ có TKX cần phải xếp ngồi gần bảng, vì một số trẻ dù đã được đeo kính đúng nhưng tình trạng nhược thị vẫn còn; không nên làm việc bằng mắt thường xuyên kéo dài. Mỗi giờ nên cho mắt nghỉ ngơi 5-10 phút bằng cách nhắm mắt lại hoặc thư giãn nhìn ra xa. Trẻ em có độ cận thị nặng cần được điều hòa giữa việc học và các hoạt động giải trí ngoài trời; phụ huynh cần đưa con em tới những nơi khám chữa mắt thật sự có uy tín để bảo đảm trẻ được khám và cấp đơn kính đúng cho từng mắt, không khám tại trung tâm bán mắt kính không có bác sĩ mắt hoặc kỹ thuật viên chuyên khoa khúc xạ.

TS. BS. Lê Thúy Quỳnh (BV Mắt Trung ương)

Những thực phẩm có thể gây sảy thai

1. Hải sản xông khói

Nên tránh hải sản xông khói và đông lạnh (thường được dán nhãn nova hoặc lox) vì chúng có thể bị nhiễm listeria. Listeria có thể gây nhiễm trùng nghiêm trọng dẫn đến sảy thai.

2. Trứng sống

Phụ nữ mang thai nên tránh những thực phẩm sống. Nên tránh trứng sống hoặc thực phẩm chứa trứng sống như mayonnaise tự làm. Cần bảo đảm lòng đỏ và lòng trắng trứng đã chín kĩ sau khi nấu chín. Nó sẽ giúp ngăn chặn nguy cơ ngộ độc thực phẩm và vi khuẩn salmonella.

3. Sữa chưa tiệt trùng

Phụ nữ mang thai nên tránh uống sữa tươi hoặc sữa chưa tiệt trùng và bất cứ thực phẩm nào chứa chúng. Cũng giống như trứng sống, sữa tươi có thể gây ngộ độc.

4. Chùm ngây

Loại thực phẩm hiểm nguy nhất có thể dẫn đến sảy thai trong thời kỳ đầu là chùm ngây. Chùm ngây gây hại cho phụ nữ mang thai vì nó chứa alpha-sitosterol với cấu trúc giống như estrogen có thể dẫn đến sảy thai.

5. Gan động vật

Mặc dù gan động vật rất bổ dưỡng, nó có thể gây hại cho phụ nữ mang thai vì chứa nhiều độc tố ví dụ gan được lấy từ động vật bị nhiễm bệnh. Gan cũng chứa lượng cao vitamin A và cholesterol. Sử dụng dư thừa có thể dẫn tới tác dụng xấu lên thai nhi và gây sảy thai.

6.Lô hội

Phụ nữ mang thai không nên ăn hoặc uống bất cứ thực phẩm nào chứa lô hội vì nó có thể dẫn tới xuất huyết vùng chậu, từ đó có thể dẫn tới sảy thai. Tốt đặc biệt tránh toàn bộ các sản phẩm lô hội trong 3 tháng đầu thai kỳ.

7. Khoai tây mọc mầm

Loại thực phẩm này không chỉ nguy hiểm cho phụ nữ mang thai mà còn hiểm nguy với toàn bộ mọi người. Khoai tây mọc mầm có chứa nhiều độc tố không giống gây hại cho sức khỏe của bà mẹ và thai nhi.

8. Đu đủ

Đu đủ và nhất là là đu đủ xanh được cho là có thể gây sảy thai. Nguyên nhân là vì đu đủ xanh chứa loại enzyme có thể gây co thắt tử cung, dẫn tới sảy thai.

9. Dứa

Nước ép dứa thường được dùng ở thời điểm sinh con để quy trình này được nhanh nhất và dễ dàng. Dứa chứa bromelain, có thể làm trơn cơ tử cung và bởi vậy dẫn đến sảy thai ví dụ sử dụng trong 3 tháng đầu của thai kỳ.

BS Thu Vân

(Theo Timesofindia)

Dinh dưỡng cho trẻ mùa nóng

Dinh dưỡng mùa nóng cho trẻ luôn là thách thức lớn nhất với các bậc phụ huynh có con nhỏ. Ngoài việc phải làm sao đáp ứng đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ, việc bộ phận ngừa các bệnh đường tiêu hóa qua đường ăn uống cũng là điều cần đặc biệt lưu ý lúc chăm sóc trẻ.

Bổ sung đủ dinh dưỡng và vi chất

Theo BS CKII Đỗ Thị Ngọc Diệp, Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM, mùa hè với cái nóng oi bức luôn tạo cho con người cảm giác mệt mỏi, chán ăn. Với các bé, điều này càng nặng nề vì các bé còn nhỏ, sức đề kháng yếu nên cần đáp ứng đủ chất trong khẩu phần ăn của trẻ. Ngoài việc bảo đảm dinh dưỡng nói chung thì cần chú ý tới những vi chất có từ thực phẩm hàng ngày. “Mùa hè, trẻ được nghỉ học nhưng lại tham gia vào nhiều sinh hoạt, trò chơi nên tiêu hao phần nhiều năng lượng. Nếu không có chính sách dinh dưỡng hợp lý thì sẽ làm ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ”. Theo BS. Diệp, những ngày oi nóng như thế này cần cho bé ăn nhiều hơn ngày thường nhóm thực phẩm có tính giải nhiệt như: rau dền, rau muống, bí... chúng giúp mang lại cảm giác mát mẻ, đồng thời cung cấp nhiều vitamin cho cơ thể, bổ sung chất xơ, tốt cho hệ tiêu hóa của bé. Nên chia nhỏ bữa ăn của trẻ, khẩu phần ăn có không ít canh rau, ít dầu mỡ...

 Món ăn đa dạng cho trẻ từ rau củ đã rửa sạch, nấu chín để bảo vệ sức khoẻ và an toàn cho trẻ trước nguy co bệnh mùa nóng tấn công.
Ngoài ra, có thể giúp trẻ chống chọi với cơn nóng, tránh rôm sảy, mẩn ngứa bằng cánh cho bé ăn bổ sung bằng những bữa ăn bổ mát như: chè hạt sen, sữa, sữa chua, bánh flan... Lưu ý cho bé uống đủ nước, khoảng 100ml/kg cân nặng/ngày. Tốt đặc biệt những thức uống có giá trị dinh dưỡng như: sữa tươi, sữa đậu nành, sữa chua uống, sinh tố, nước ép trái cây.

Chú ý chế độ ăn để không mắc bệnh đường tiêu hóa

Mùa nóng, trẻ dễ mắc bệnh tiêu chảy do thức ăn ôi, thiu, do vi khuẩn dễ sinh sôi nảy nở trong môi trường nóng ẩm cũng như nước đá không tinh khiết. Cho đến nay, tiêu chảy cấp vẫn còn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ vì do cơ thể mất nước và điện giải, tiêu chảy cũng chính là nguyên nhân khiến trẻ bị suy dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự nâng cao trưởng của trẻ. Khi trẻ đi ngoài phân lỏng hay bị tóe nước trên 3 lần/24 giờ là trẻ đã bị tiêu chảy. Vào mùa nắng nóng, trẻ thường bị tiêu chảy do vi khuẩn (như E.Coli) hoặc do virút. BS.CKII. Nguyễn Thị Thu Hậu - Trưởng khoa Dinh dưỡng BV. Nhi Đồng hai TP.HCM lưu ý các bậc phụ huynh khi chăm trẻ cần tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc trong chế biến cũng như bảo quản thức ăn cho trẻ nhằm đảm bảo vào vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng bệnh cho trẻ. Nguyên tắc căn bản nhất vẫn là “ăn chín uống sôi”. Và thức ăn của bé lúc đã chế biến cần tránh để ngoài nhiệt độ môi trường hơn hai giờ. Khi bảo quản trong tủ lạnh cũng cần biết nên bảo quản chỉ cần khoảng bao lâu và những thực phẩm gì nên, không nên trữ lâu trong tủ lạnh.

Các bác sĩ cho biết, trong mùa hè, nhiều trẻ nhập viện vì phụ huynh đi làm thường pha sẵn sữa cho vào tủ lạnh cho trẻ uống trong ngày. Điều này khá phổ biến và hậu quả là trẻ thường bị đau bụng, nặng thì tiêu chảy và phải tới bệnh viện. Theo khuyến cáo, toàn bộ các loại sữa đều không nên để lâu hoặc pha sẵn vì dễ làm mất đi các chất dinh dưỡng. Đặc biệt, nếu như bảo quản không đúng, để sữa pha quá thời gian sẽ gây lên men, tạo môi trường tiện lợi để nấm, vi khuẩn phát triển. Khi trẻ uống phải sữa này sẽ bị tiêu chảy, nhiễm độc, gây mất nước và rối loạn điện giải rất nguy hiểm.

Theo BS. Thu Hậu, trời nóng nực làm người khó chịu, mất nhiều mồ hôi gây ra khát, để giải nhiệt thì mọi người có xu thế dùng nước đá thật lạnhcho đã. Tuy nhiên, đây lại là nguyên nhân làm cho siêu vi và vi trùng ở vùng hầu họng phát triển gây viêm hô hấp trên, sốt siêu vi có hay không kèm phát ban hay có thể diễn tiến đến viêm phế quản. Bên cạnh đó, mùa hè, người lớn thường chuộng các món ăn khoái khẩu như các loại gỏi, nộm, rau sống, salat ví dụ không giảm thiểu thì cần chú ký chế biến thật kỹ để gặt đi vi khuẩn gây bệnh. Tốt nhất là ít cho trẻ ăn những món này. Ưu tiên chế biến nhiều món ăn đa dạng cho trẻ từ rau củ đã rửa sạch, nấu chín để bảo vệ sức khoẻ và an toàn cho trẻ trước nguy co bệnh mùa nóng tấn công.

TU N NGUYỄN

Trẻ bụ bẫm cũng có thể bị còi xương

Còi xương là bệnh rất quen thuộc ở trẻ dưới 3 tuổi, thường gặp ở trẻ sinh thiếu cân, có hội chứng kém hấp thu, trẻ suy dinh dưỡng... Có không ít trẻ có cân nặng tốt, thậm chí thừa cân cũng bị còi xương Nếu không được khám và chữa trị kịp thời, còi xương sẽ để lại những hậu quả lâu dài cho trẻ như: biến dạng lồng ngực, gù vẹo cột sống, chân vòng kiềng, trảo đổi dáng đi...

Theo các chuyên gia đầu ngành nghề về dinh dưỡng ở Việt Nam, cả trẻ nhẹ cân lẫn nặng cân đều có thể bị còi xương. Nguyên nhân gây bệnh thường là thiếu vitamin D (chất điều hòa chuyển hóa và hấp thu canxi, phospho); do kiêng cữ quá kỹ, ít cho con tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hay chế độ ăn không cân đối (quá mặn hay quá nhiều chất đạm làm đào thải vitamin D qua nước tiểu), trẻ không được bú mẹ đầy đủ cũng dễ bị còi xương. Bên cạnh đó, trẻ được ăn dặm sớm và ăn nhiều bột cũng gây tình trạng loạn chuyển hóa, ức chế hấp thu canxi, làm cho tình trạng thiếu canxi càng trầm trọng hơn.

Trẻ bụ bẫm cũng có thể bị còi xương 1 Trẻ béo phì có nguy cơ còi xương rất cao.

Các bác sĩ cũng cảnh báo, nhiều bậc cha mẹ lại cố nhồi nhét, ép trẻ ăn nhiều khiến trẻ bị thừa cân, béo. Trong lúc đó, trẻ quá bụ bẫm cũng là một nhân tố gây còi xương. Bởi lẽ tại những trẻ này, nhu cầu vào canxi, phospho, vitamin D cao hơn những trẻ bình thường. Thêm về đó, số cân nặng dư thừa cũng làm nâng cao gánh nặng cho hệ thống xương non nớt của trẻ.

Biểu hiện trẻ bị còi xương: Trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi, rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn, thóp mềm và chậm liền, chậm mọc răng, chậm biết lẫy, bò, đi...

Nếu không điều trị kịp thời, trẻ còi xương dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như viêm phổi, tiêu chảy, suy dinh dưỡng, đồng thời, bệnh còi xương còn để lại những hậu quả trong tương lai như: biến dạng lồng ngực, gù vẹo cột sống, chân vòng kiềng, trảo đổi dáng đi và ảnh hưởng xấu đến việc sinh đẻ sau này đối với bé gái do bị hẹp khung chậu.

Trẻ bụ bẫm cũng có thể bị còi xương 2 Hạn chế cho trẻ ăn chất béo, sôcôla.

Làm thế nào để phòng tránh?

Nhiều bà mẹ khi thấy con bị còi xương thì tìm cách bổ sung canxi. Thực ra, nếu như cung cấp đủ canxi mà thiếu vitamin D thì dưỡng chất trên cũng không hấp thu được. Mặt khác, nguyên nhân gây còi xương ở trẻ phần lớn là do thiếu vitamin D. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, trẻ ăn sữa bột có nguy cơ còi xương cao hơn trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, ngay cả sữa mẹ cũng không đủ vitamin D. Trẻ cần “lấy” thêm chất này qua việc tắm nắng mặt trời. Chỉ cần 10-15 phút tắm nắng vào buổi sáng, tiền vitamin D trên da trẻ sẽ được chuyển thành vitamin D.

Để dự phòng còi xương:bác sĩ khuyên ngay từ thời kỳ mang thai, người mẹ nên dành thời gian tắm nắng, đi dạo ngoài trời, chọn thực phẩm giàu vitamin D và canxi. Trẻ sinh ra cần phải bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Khi đã ăn bổ sung, cần cho dầu mỡ về bát bột để nâng cao hấp thu vitamin D (có nhiều trong cá, thịt, trứng...) vì chất này thuộc loại tan trong dầu. Hằng ngày, cần cho trẻ tắm nắng, để lộ chân, tay, lưng, bụng. Cho trẻ uống vitamin D400IU mỗi ngày trong suốt năm đầu tiên, đặc biệt vào mùa đông, nhất là cần với trẻ sinh non, nhẹ cân.

BS. Nguyễn Hải Anh