This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Ðẩy lùi viêm đường tiết niệu khi mang thai

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là bệnh lý hay gặp ở người phụ nữ, nhất là hay gặp tại phụ nữ mang thai. Đôi lúc nhiễm khuẩn đường tiết niệu diễn ra âm thầm, lặng lẽ không có triệu chứng rõ ràng nhưng phần lớn đều có biểu hiện lên chức năng tiểu nhân thể tùy theo vị trí nào của hệ tiết niệu như viêm bàng quang, viêm đài bể thận, viêm thận một bên hoặc hai bên. Các ổ nhiễm khuẩn có thể phát hiện sớm trước khi mang thai hoặc đồng thời song song trong suốt thai kỳ.

Nguyên nhân gây bệnh

Thời kỳ mang thai đặc biệt trong 3 tháng cuối, tử cung thường nghiêng sang phải sẽ đè ép vào niệu quản và thận phải nên dễ gây ứ nước thận và viêm thận. Hơn nữa, trong thời kỳ có thai, sự đánh tráo vào sinh lý nội tiết như dưới tác dụng của progesterone khi mang thai sẽ làm nhu động ruột, nhu động niệu quản giảm nên thai phụ hay bị táo bón và ứ đọng nước tiểu hơn. Hoặc trong thời kỳ hậu sản, 1 số sản phụ thường bí tiểu do cuộc đẻ gây ra như chấn thương đường sinh dục dưới, do thủ thuật Forceps, giác hút, đại kéo thai. Hoặc dùng thông tiểu trước, trong và sau sinh không đảm bảo vô khuẩn.

Điều trị triệt để lúc bị viêm tiết niệu để không nguy hiểm lúc mang thai.

Ảnh hưởng đối với thai kỳ

Tùy vị trí bị nhiễm khuẩn (bàng quang, niệu quản hay bể thận) mà có sự ảnh hưởng khác nhau tới thai kỳ: Khoảng 25% các trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu không có triệu chứng sẽ dẫn tới nhiễm khuẩn tiết niệu có triệu chứng. Một số trường hợp có thể dẫn đến động thai, sẩy thai nhất là về những tháng trước nhất của thời kỳ mang thai. Nếu viêm thận - bể thận sẽ ảnh hưởng nặng nề hơn thường dẫn tới đẻ non, thai chết trong tử cung ví dụ chẩn đoán muộn và điều trị không tích cực.

Cảnh giác viêm bể thận trong thai kỳ

Đây là hình thái nặng của nhiễm khuẩn đường tiết niệu đối với thai kỳ hay gặp vào 3 tháng cuối của thai kỳ, nguyên nhân hay gặp là do nhiễm khuẩn tiết niệu từ dưới ngược dòng lên trên (theo niệu quản). Bệnh xuất hiện đột ngột trên 1 thai phụ thông thường hoặc ở thai phụ đã bị viêm niệu đạo hoặc viêm bàng quang trước đó với triệu chứng như: tiểu buốt, tiểu khó, tiểu máu; sốt cao (có thể đến 40oC, rét run; đau 1 bên hông hoặc hai bên (lúc khám); kém ăn hoặc chán ăn; buồn nôn, hay nôn mửa. Xét nghiệm nước tiểu có rất nhiều vi khuẩn, bạch cầu, mủ... Nếu cấy máu có thể gặp 15% trường hợp có nhiễm khuẩn máu.

Đừng để viêm thận - bể thận mạn tính

Nếu thai phụ có tiền sử bị viêm tiết niệu (niệu đạo, viêm bàng quang hoặc viêm thận - bể thận) cấp tính cần điều trị triệt để. Vì triệu chứng viêm thận - bể thận thường âm thầm chỉ biểu lộ suy chức năng thận (suy thận) khi bệnh quá nặng.

Trường hợp chức năng thận còn tốt, huyết áp còn trong giới hạn bình thường thì thai vẫn phát triển bình thường. Điều trị như đối với viêm thận cấp tính nhưng cần Quan tâm theo dõi kỹ về chức năng thận. Đôi lúc có thể kết hợp chạy thận nhân tạo nếu đủ điều kiện và đúng chỉ định. Nói chung ví dụ suy thận thì tiên lượng cho mẹ và thai thường xấu.

Chú ý trong phòng ngừa và điều trị

Cần chẩn đoán sớm và phải điều trị tích cực các trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu trong thai kỳ để tránh các biến chứng xấu có hại cho cả mẹ và thai nhi. Vì vậy, thai phụ cần định kỳ khám thai và xét nghiệm nước tiểu nếu như có biểu hiện bất thường. Ngoài ra, trong quá trình khám và xử trí cần tránh các nhân tố tiện dụng gây nên nhiễm khuẩn tiết niệu như sang chấn sản khoa, cần giảm thiểu thông tiểu nếu thấy chưa cần thiết; cần điều trị viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử cung trong quá trình thai nghén để bộ phận lây nhiễm sang đường tiết niệu. Nhớ uống nhiều nước 1,5 - hai lít/ngày để phòng sỏi tiết niệu.

Khi phát hiện thai phụ bị viêm thận - bể thận thì cần phải nhập viện để điều trị. Bao gồm: nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường; Truyền dịch và theo dõi lượng nước tiểu để đánh mức giá chức năng thận và phát hiện sớm hình thái nhiễm khuẩn tiết niệu lan tỏa. Theo dõi thêm vào các chỉ số huyết áp, mạch, nhiệt độ. Dùng kháng sinh có kháng phổ rộng... hoặc có thể sử dụng phối hợp các kháng sinh. Theo dõi kỹ trong 2 ngày đầu điều trị, ví dụ các triệu chứng lâm sàng nói trên giảm hoặc biến mất cần tiếp diễn điều trị thêm cho tới 10 ngày. Nếu sau 2 ngày theo dõi (mặc dù đã sử dụng kháng sinh tích cực) vẫn không thuyên giảm vào triệu chứng, cần được đổi kháng sinh dựa theo kết quả kháng sinh đồ.

BS. Vũ Hồng Ngọc

Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc

Địa chỉ tiêm chủng Uy tín – Chất lượng

Được cơ quan điều hành nhà nước vào y tế cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ diều kiệntiêm chủng là mục tiêu trước hết và cần phải có nhất quyết định chất lượng của một cơ sở tiêm chủng uy tín. Chính vì vậy, Bệnh viện Hồng Ngọc cũng như các bộ phận khám trực thuộc bệnh viện đều được Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động trong ngành nghề tiêm chủng của Sở Y tế Hà Nội. Cụ thể:

1. Bệnh viện Hồng Ngọc – 55 Yên Ninh, Ba Đình, Hà Nội– Giám đốc BS.Cao Độc Lập: Giấy chứng nhận đủ điều kiện tiêm chủng số 498/SYT-GCNĐĐKTC ngày 29/6/2015 (Hiệu lực 5 năm bắt đầu từ ngày cấp)

2. Phòng khám Đa khoa Hồng Ngọc 2 – Tầng 10, tòa nhà 70 tầng Keangnam Hanoi Landmark Tower - Trưởng bộ phận khám BS. Phạm Đức Thịnh: Giấy chứng tiếp nhân đủ điều kiện tiêm chủng số 605/ SYT-GCNĐĐKTC ngày 5/8/2015 (Hiệu lực 5 năm kể từ ngày cấp).

3. Phòng khám Đa khoa Hồng Ngọc ở Tầng 3, khối B, cửa hàng Thương Mại Savico Megamall -Trưởng phòng khám BS. Trịnh Tùng: Giấy chứng tiếp nhân đủ điều kiện tiêm chủng số 673/ SYT-GCNĐĐKTC ngày 8/12/2015 (Hiệu lực 5 năm diễn ra từ ngày cấp).

Giấy phép tiêm chủng vaccine ở 3 cơ sở của BVĐK Hồng Ngọc được Sở Y tế Hà Nội cấp

Đặc biệt, ngày 13/02/2018, Bộ Y tế đã tiến hành thanh tra 01 điểm tiêm chủng chỉ có tại bệnh viện Hồng Ngọc (phòng tiêm chủng tầng 3 trực thuộc bệnh viện) và kết luận BV Hồng Ngọc đáp ứng điều kiện tiêm chủng theo đúng quy định, đảm bảo về trang thiết bị bảo quản vaccine, nguồn nhân lực và thực hiện đầy đủ các khâu trong quy trình tiêm chủng. Tuy còn mắc một số sai sót nhỏ trong khiếu nại sổ sách hành chính nhưng BV Hồng Ngọc đã kịp thời khắc phục, đảm bảo tuân thủ quy định đề ra. Có thể nói, sự khách quan trong quá trình thanh tra của Bộ đã phát triển thành nguồn động viên rất to để BV Hồng Ngọc không ngừng phát huy hơn nữa trong việc xây dựng niềm tin khách hàng cũng như chung tay xây dựng sức khỏe cộng đồng vững mạnh.

Quy trình tiêm chủng tuân thủ nghiêm ngặt

An toàn tiêm chủng là chỉ tiêu nhu yếu bậc nhất khi khách hàng chọn lựa 01 cơ sở tiêm chủng uy tín. Chính vì vậy, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc cũng như các bộ phận khám luôn tuân thủ quá trình tiêm vaccine nghiêm ngặt theo quy định của Bộ Y tế, bao gồm các bước:

Bước 1:Khám sàng lọc trước tiêm: Bác sĩ tiến hành khám sàng lọc cho khách hàng qua việc khai thác những vấn đề về sức khỏe và lịch sử tiêm chủng. Sau khi khai thác những thông tin trên, bác sĩ sẽ đánh mức chi phí chung về thể trạng hiện nay qua các chỉ số như huyết áp, thân nhiệt, tim phổi… Nếu khách hàng đáp ứng đủ các điều kiện về sức khỏe mới được bác sĩ chi định tiêm.

Bước 2:Chỉ định và giải đáp tiêm chủng: Sau bước khám sàng lọc, khách hàng sẽ được hướng dẫn về phòng tiêm. Trước khi tiến hành tiêm chủng, điều dưỡng sẽ phân phối thông tin liên quan tới loại vaccine sẽ tiêm như: tên vaccine, nước sản xuất, hạn sử dụng, vị trí tiêm… Bằng cách này, khách hàng sẽ biết được thông tin tổng quan vào loại vaccine mình sẽ tiêm, tránh tình trạng tiêm sai hoặc vaccine đã hết hạn sử dụng.

Bước 3:Theo dõi phản ứng sau tiêm: Khách hàng sau khi tiêm sẽ được yêu cầu ở lại ít nhất 30 phút để được theo dõi các phản ứng. Bệnh viện luôn có sự chuẩn bị đầy đủ hộp thuốc chống sốc, phác đồ chống sốc ở bộ phận tiêm chủng để kịp thời đối phó với các trường Hợp có thể xảy ra.

Đảm bảo vaccine an toàn, đúng quy định

Tại các cửa hàng tiêm chủng BV Hồng Ngọc, khách hàng không chỉ được đem tới đầy đủ thông tin Xuất xứ vaccine mà còn giúp giảm thiểu thời gian chờ lúc đặt lịch hẹn trước và niêm yết giá minh bạch. Tại đây, vaccine được nhập từ các nhà phân phối thuốc uy tín trong và ngoài nước, đam bảo thuốc xuất xứ từ Mỹ, Pháp, Bỉ… nên đã gặt đi hoàn toàn các tạp chất, bảo đảm độ tinh khiết. Bên cạnh đó, bảng mức chi phí vaccine luôn được công khai và đảm bảo bình ổn mức giá để mang lại cơ hội tiêm chủng vaccine bộ phận bệnh cho toàn bộ khách hàng.

Bảng mức chi phí tiêm chủng được công khai tại BVĐK Hồng Ngọc

Đặc biệt,theo quy định của Bộ Y tế, tất cả vaccine phải được bảo quản theo dây chuyền lạnh đạt tiêu chuẩn GSP từ khi sản xuất đến khi sử dụng. Chính vì vậy, tất các vaccine sử dụng cho mục đích tiêm chủng tại BV Hồng Ngọc đều được bảo quản chặt chẽ tại nhiệt độ đúng quy định, bảo đảm chất lượng vaccine tốt nhất cho khách hàng. Theo đó, vaccine và dung môi phải được bảo quản lạnh trong khoảng nhiệt độ từ 2 – 8 độ C, không được để đông băng. Đồng thời, tất cả giây chuyền lạnh chỉ được sử dụng cho vaccine, không để bất kỳ loại thuốc, hóa chất hay thực phẩm nào khác xen lẫn.

Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, thái độ thân thiện

Phong cách làm việc nhiều năm kinh nghiệm cùng thái độ chuyên dụng cho thân thiện của đội ngũ y bác sĩ, điều dưỡng tại phòng tiêm chủng đã góp phần không nhỏ tạo nên thương hiệu tiêm chủng của Bệnh viện Hồng Ngọc. Theo đó, mỗi nhân viên đều am hiểu vào các loại vaccine, có thái độ cởi mở và nhiệt tình giúp đỡ khách hàng trong mọi trường hợp cần thiết.

Thao tác tiêm chủng được thực hiện nhẹ nhàng nhằm giảm bớt cảm giác đau cho trẻ

Thao tác tiêm chủng được thực hiện nhẹ nhàng nhằm giảm bớt cảm giác đau, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ. Bên cạnh đó, để phòng khi bố mẹ quên lịch tiêm chủng của con, nhân viên phòng tiêm chủng sẽ chủ động nhắn tin nhắc hẹn đến ngày tiêm.

Khách hàng nói vào dịch vụ Tiêm chủng ở BV Hồng Ngọc

Khi được hỏi vào dịch vụ tiêm chủng ở BV Hồng Ngọc, nhiều khách hàng cảm thấy rất hài lòng với chất lượng dịch vụ cũng như quy trình thăm khám nơi đây.

Chị Lại Thị H.( 39 tuổi, Hà Nội) cho biết: “Mình rất thích sử dụng dịch vụ tiêm chủng tại BV Hồng Ngọc và thường đặt hẹn trước để đưa bé đến là được khám và tiêm luôn. Nhà mình sắp trung tâm Keangnam nên thường đưa bé đến tiêm ở đấy cho tiện. Các mũi tiêm đều được ghi chép cẩn thận trong sổ theo dõi tiêm của bé và gân đến ngày tiêm đều được bệnh viện nhắn tin nhắc lịch khám, vì thế mà bé nhà mình chưa bị lỡ mũi tiêm nào. Đặc biệt, bác sĩ khám rất nhẹ nhàng, tư vấn cẩn thận và bạn đọc y tá khi tiêm luôn biết cách để giúp bé thấy thoải mái hơn”.

Chị Trần Thị Tr.(34 tuổi, Hà Nội) chia sẻ: “Hai bé nhà tôi đều dùng dịch vụ tiêm chủng ở BV Hồng Ngọc, trong đó bé thứ hai chị sinh ở đây nên dùng dịch vụ tiêm chủng trọn gói. Cũng có đợt khi nguồn vaccine 6 trong một hết, tôi phải đưa bé sang tiêm nơi khác nhưng sau đó lại tiếp tục dùng dịch vụ tiêm chủng ở BV Hông Ngọc. Nơi đây, tôi cảm thấy rất tin tưởng khi đưa bé đến tiêm bởi bác sĩ và y tá luôn giải thích cặn kẽ những khiếu nại mình thắc mắc, thuốc rõ nguồn gốc và hạn dùng đảm bảo...”

Hy vọng rằng, với những điểm tốt nổi trội về chất lượng dịch vụ tiêm chủng, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc và các địa chỉ tiêm chủng sẽ càng ngày phát huy ưu điểm hơn nữa, trở nên địa chỉ tiêm chủng uy tín, an toàn của khách hàng.

Minh Huệ

Thiếu hụt chất béo trong bữa ăn hàng ngày sẽ ảnh hưởng đến não trẻ

Theo đó, chia sẻ kiến thức vào tầm cần phải có của chất béo đối với sự phát triển của trẻ nhỏ, các chuyên gia cho biết, chất béo chiến tới 60% trong phần vật chất giúp hoàn thiện não bộ của trẻ từ 0 tới 3 tuổi để hình thành phần não cứng. Do đó, trẻ cần phải mang đến đầy đủ các dưỡng chất, đặc biệt chất béo để phát triển cả về thể chất lẫn trí não. Nếu thiếu hụt chất béo trong khẩu phần ăn hàng ngày sẽ ảnh hưởng đến chức năng nhiều bộ phận, nhất là là não.

Bên cạnh đó, chất béo khi vào cơ thể sẽ bị đốt cháy sản sinh ra năng lượng cung cấp cho các hoạt động của cơ thể. Chất béo còn đóng vai trò là chất dung môi hòa tan các Vitamin cần thiết với trẻ như Vitamin A, D, E nên để cơ thể trẻ hấp thụ tốt các Vitamin này càng cần được có chất béo.

Theo PGS.TS Lê Bạch Mai, nguyên Phó viện trưởng Viện Dinh Dưỡng Quốc gia chất béo bao gồm: Chất béo bão hòa, Chất béo không bão hòa và Chất béo có Xuất xứ thực vật. Chất béo bão hòa có rất nhiều trong các loại mỡ động vật. chứa nhiều cholesterol không rất tốt cho sức khỏe nên thường được khuyến nghị giảm thiểu sử dụng.

Chất béo không bão hòa có nhiều trong các loại hạt và các loại hải sản nhất là là cá hồi. Chất béo có nguồn gốc thực vật không chứa cholesterol, nhiều vitamin và các chất béo không bão hòa. Như vậy, hai loại: chất béo không bão hòa và chất béo có nguồn gốc thực vật được đánh mức giá là rất tốt cho sức khỏe.

Đối với trẻ em, nhu cầu chất béo trong cơ thể trẻ rất khác so với người lớn. Do đó, để cung cấp đầy đủ, cân bằng và hợp lý nguồn chất béo cần yếu cho con, cha mẹ có thể chọn cách thức dùng những loại dầu ăn dinh dưỡng đặc chế dành riêng cho trẻ bằng cách bổ sung trực tiếp và liên tục trong các bữa ăn cho con. Ví dụ như mỗi bữa ăn, cha mẹ cho 1 muỗng khoảng 5ml dầu ăn dinh dưỡng đặc chế riêng cho trẻ. Các loại dầu ăn này có chứa nhiều dưỡng chất quý mức chi phí và thiết yếu như DHA, EPA, Omega 3, 6, 9 và Vitamin A, E giúp phát triển não bộ và xây dựng nền tảng sản sinh năng lượng cho trẻ.

H.Nguyên

Cách nào tăng cường miễn dịch cho trẻ?

Tại sao trẻ nhỏ hay mắc bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp?

Đường hô hấp chính là con đường mà nhiều mầm bệnh (virus, vi khuẩn...) thuận lợi xâm nhập khi chúng ta hít thở. Đối với trẻ em do đường thở ngắn và hẹp nên mầm bệnh càng tiện lợi xâm nhập hơn.

Ngay từ lúc còn là bào thai trẻ đã được mẹ truyền các kháng thể giúp bảo vệ trẻ khỏi các bệnh nhiễm khuẩn trong những tháng đầu đời. Khi sinh ra sữa mẹ chính là nguồn thức ăn rất tốt nhất, cũng là nguồn phân phối các kháng thể, các chất kháng khuẩn giúp trẻ bộ phận ngừa bệnh tật, do vậy trong 6 tháng đầu đời trẻ rất ít ốm đau. Tuy nhiên, từ 6 tháng tuổi, là tuổi bé bước vào ăn dặm các kháng thể này Tiến hành giảm mạnh, trong lúc đó hệ thống miễn dịch của trẻ chưa hoàn chỉnh. Phải đến 3– 4 tuổi hệ thống này mới được hoàn thiện, và cơ thể trẻ mới có thể sản xuất đầy đủ các kháng thể giúp chống lại các bệnh nhiễm khuẩn. Hơn nữa, chỉ mất khoảng ăn dặm, trẻ bú mẹ ít hơn nên kháng thể truyền qua sữa mẹ cũng bị giảm đi, làm cho hệ thống miễn dịch suy yếu và tạo thành 1 “khoảng trống miễn dịch”.

Cho trẻ ăn đầy đủ dưỡng chất sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch.

Vậy "khoảng trống miễn dịch” là gì? Trước hết chúng ta cần được hiểu hệ thống miễn dịch là gì? Tại sao lại có khoảng trống miễn dịch?

Hệ thống miễn dịch là hệ thống bảo vệ cơ thể khỏi sự tấn công của các vật lạ hay còn gọi là các kháng nguyên như vi khuẩn, virus, dị nguyên và 1 số chất đạm. Hệ thống miễn dịch của trẻ chia làm hai loại:

Loại thứ nhất: Miễn dịch bẩm sinh hay còn gọi là miễn dịch thụ động, có tác dụng tức thì ngay sau lúc sinh nhưng không đặc hiệu.

Loại thứ 2: Hệ thống miễn dịch mắc phải hay còn gọi là miễn dịch chủ động. Đây là hệ thống miễn dịch đặc hiệu có trí nhớ.

Hệ thống miễn dịch thụ động được mẹ truyền qua thai nhi trong thời kỳ bào thai và sau đó là qua sữa mẹ sẽ giảm dần. Ví dụ kháng thể IGG qua nhau thai từ tháng thứ 3 của thai kỳ, tại thời điểm sinh thì số lượng đạt bằng của mẹ và hết dần vào khoảng 3 tháng tuổi. Còn các kháng thể khác như IgA và các yếu tố diệt khuẩn như bạch cầu, protein bổ thể, lysozym và lactoferrin thì giảm dần vào khoảng 6 tháng tuổi, lúc này hệ thống miễn dịch chủ động mới bắt đầu phát triển và chỉ được hoàn thiện vào lúc trẻ đạt 3– 4 tuổi.

Vậy khoảng trống miễn dịch chính là khoảng thời gian giao nhau của hai hệ thống miễn dịch và nằm khoảng thời gian trẻ từ 6 tháng tới 3 - 4 tuổi. Trên thực tế chúng ta đều thấy trẻ thường hay ốm đau từ khi 6 tháng tuổi và từ ngoài 3 tuổi trở đi trẻ ít ốm hơn.

Chính vì vậy, việc bảo vệ hệ miễn dịch trong thời kỳ này là vô cùng quan trọng. Nếu được bảo vệ tốt trẻ sẽ khỏe mạnh, ít ốm đau, bệnh tật. Những trẻ có hệ thống miễn dịch tốt cũng chính là những trẻ khỏe mạnh, phát triển rất tốt về thể lực và trí não.

Cách nào để lấp đầy “khoảng trống miễn dịch”?

Biện pháp cấp thiết trước hết chính là nuôi dưỡng. Một trẻ được nuôi dưỡng tốt, không bị suy dinh dưỡng thường khỏe mạnh, trẻ bị suy dinh dưỡng thì hệ miễn dịch suy giảm nên liên tục ốm đau. Vậy làm th ế nào để trẻ không bị suy dinh dưỡng?

Cho trẻ bú mẹ ngay những giờ đầu sau sinh và tiếp diễn bú tới 24 tháng tuổi: Trong sữa mẹ có chứa nồng độ globulin cao. Các chất này có thể giúp hình thành yếu tố kháng thể giúp trẻ bộ phận chống các bệnh nhiễm khuẩn nói chung và bệnh vào đường hô hấp nói riêng. Mặt khác, nó còn có thể giúp ngăn chặn virus hiệu quả. Ngoài ra, trong sữa còn có chứa lactoferrin ức chế hấp thu sắt của vi khuẩn, gây cản trở trong sự thảo luận chất của vi khuẩn và đóng vai trò như một chất kháng khuẩn hiệu quả giúp phòng ngừa hiện tượng nhiễm khuẩn đường hô hấp tại trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Ngoài ra, sữa mẹ còn chứa các probiotic (những vi khuẩn có lợi) có tác dụng nâng cao cường hệ miễn dịch đường hô hấp và tiêu hóa.

Cho trẻ ăn bổ sung hợp lý, cân đối đầy đủ các nhóm thực phẩm, đặc biệt Quan tâm mang đến đầy đủ chất đạm (protein) từ sữa, trứng, cá, thịt, đậu đỗ. Vì bản chất của các kháng thể là protein, nếu như thiếu trẻ sẽ không tạo được kháng thể bộ phận chống bệnh tật. Bên cạnh đó việc nâng cao cường bổ sung các vi chất dinh dưỡng (các vitamin và khoáng chất) cũng vô cùng quan trọng. Đó là vitamin: A, D, C và các khoáng chất như kẽm, sắt, selen, canxi, magie... Ở trẻ nhỏ, những vi chất này đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ các hoạt động chức năng và gián tiếp tác động tích cực lên hệ miễn dịch. Mẹ có thể bổ sung vi chất dinh dưỡng cho bé bằng nguồn thức ăn phong phú hàng ngày (thịt, cá, tôm cua, trứng, sữa, rau, củ, quả). Các thực phẩm giàu vitamin A (lòng đỏ trứng, gan và các loại rau củ, quả có màu vàng đỏ, xanh đậm, cà rốt, bí đỏ, dầu gấc, đu đủ, rau ngót, rau dền, cải bó xôi), giàu vitamin D (lòng đỏ trứng, dầu gan cá), giàu vitamin C (các loại quả chín và rau xanh, nhiều nhất trong bưởi, cam, quýt, chanh), các khoáng chất như kẽm có nhiều trong đồ hải sản (hàu, ngao, trong lòng đỏ trứng, thịt gà, thịt thăn và đậu đỗ, sắt có trong gan, tim, bầu dục, thịt bò, thịt gà), canxi nhiều trong sữa, các chế phẩm từ sữa, tôm, cua, cá... Việc cho trẻ ăn sữa chua hàng ngày rất tốt, vừa mang đến các chất dinh dưỡng, lại mang đến các vi khuẩn có lợi, có tác dụng nâng cao cường miễn dịch.

Tiêm phòng vắc xin đầy đủ theo lịch tiêm chủng của Bộ Y tế.

Đảm bảo cho trẻ có một không gian sống sạch sẽ, trong lành: không khói bụi và ô nhiễm: nhất là khói thuốc lá, thuốc lào, khói than tổ ong... Giữ gìn vệ sinh cơ thể sạch sẽ, nâng cao cường vận động ngoài trời giúp cơ thể tổng hợp vitamin D, 1 vitamin cần thiết nâng cao cường hệ miễn dịch trong khi lại có rất ít trong thức ăn, vận động thường xuyên giúp trẻ có một cơ thể khỏe mạnh và linh hoạt hơn, từ đó trẻ cũng ít mắc bệnh hơn.

Cho trẻ ngủ đủ giấc cũng là một nhân tố cần yếu để tăng cường hệ miễn dịch.

Cũng có thể dùng thêm sản phẩm bổ sung hoạt chất tăng cường miễn dịch cho trẻ có sức đề kháng kém. Đó là những sản phẩm có chứa vitamin A, D, kẽm, sắt, selen, thymonodulin, beta glucan, imul anpha, coloschum, probiotic... Nhưng đối với trẻ nhỏ, hiệu quả và an toàn là 2 nhân tố cha mẹ cần quan tâm hàng đầu khi chọn lựa sản phẩm tăng cường miễn dịch, cải thiện sức đề kháng cho trẻ, cần được tham khảo trước ý kiến bác sĩ. Cha mẹ nên chọn sản phẩm được nghiên cứu lâm sàng đầy đủ vào tính hiệu quả, độ an toàn trên trẻ em và có nguồn gốc có nguồn gốc tin cậy.

 

ThS.BS. Lê Thị Hải

Phụ nữ mang thai và cúm mùa

Sức khỏe&Đời sống có cuộc trao đổi với PGS.TS.BS. Lưu Thị Hồng, Tổng Thư ký Hội Sản phụ khoa Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Chăm sóc bà mẹ& Trẻ em - Bộ Y tế xung quanh khiếu nại phụ nữ mang thai và bệnh cúm mùa nói chung và cúm A/H1N1 nói riêng.

PGS.TS.BS. Lưu Thị Hồng

PV: Thưa bác sĩ, bệnh cúm dễ lây lan và là mối lo ngại lớn của phụ nữ lúc mang thai. Vì sao thai phụ lại dễ mắc cúm và lúc mắc cúm có những nguy cơ gì?

PGS.TS.BS. Lưu Thị Hồng: Trong quá trình mang thai, hệ miễn dịch của bà mẹ suy giảm. Do đó, các bệnh truyền nhiễm do virut, vi khuẩn là nguy cơ bậc nhất đối với phụ nữ mang thai. Đặc biệt trong ba tháng đầu của thai kỳ nếu bà mẹ bị mắc bệnh do virut, vi khuẩn thì sẽ có thể ảnh hưởng đến thai nhi và gây ra những dị tật bẩm sinh cho thai nhi, tuy vậy, không phải tất cả các loại virut đều gây dị tật. Ngoài ra, một số trường hợp bà mẹ mang thai bị cúm có thể làm tăng khả năng sẩy thai, thai chết lưu, hoặc sinh non trong những tháng cuối của thai kỳ. Các nhà nghiên cứu cho rằng, não bộ của thai nhi rất dễ bị tổn thương do bệnh cúm của người mẹ trong 3 tháng đầu. Nguyên nhân của hiện tượng này là, các kháng thể cúm của mẹ lọt qua nhau thai và tác động xấu đến hệ miễn dịch còn non nớt của bào thai, người ta đã thấy rõ virut gây bệnh Rubella có khả năng gây dị tật cho thai với tỷ lệ cao tại giai đoạn đầu mang thai (có thể tới 70-80% với những tổn thương tại mắt và hệ thần kinh...) Vì thế, các bác sĩ sản khoa thường khuyên người có thai trong thời kỳ đầu không may bị nhiễm bệnh này nên phá thai.

PV:Làm sao biết là mắc cúm chứ không phải cảm lạnh hay viêm mũi dị ứng theo mùa thưa BS?

PGS.TS.BS. Lưu Thị Hồng: Biểu hiện của bệnh cúm bao gồm sốt, ho, đau cổ, sổ mũi, nhức đầu, đau cơ, rất yếu và mệt mỏi. Các triệu chứng này thường sẽ xảy ra từ 1 - 4 ngày sau khi bị nhiễm, và rất dễ lây nhiễm. Nói chung bệnh cúm diễn biến nặng hơn so với cảm lạnh thông thường, và các triệu chứng cũng mạnh hơn. Người bị cảm lạnh cũng bị sổ mũi hoặc nghẹt mũi nhưng không phát triển các vấn đề làm ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe. Với cúm A/ H1N1, người bệnh có các triệu chứng cấp tính ở đường hô hấp tương tự với cúm mùa (ho, đau họng, sổ mũi và sốt). Các triệu chứng khác bao gồm đau cơ và khớp, nhức đầu, mệt mỏi, nôn ói và tiêu chảy. Bệnh có thể tiến triển nhanh nhất tại 1 số thai phụ, và có thể gây nhiễm trùng thứ phát kể cả viêm phổi. Suy thai và tử vong mẹ có thể xảy ra tại những trường hợp bệnh nặng.

Phụ nữ mang thai nghi nhiễm virut cúm A/H1N1 cần phải bác sĩ khám và đưa các xét nghiệm nhu yếu để chẩn đoán. Tuy nhiên, không nên trì hoãn việc điều trị cho đến lúc có kết quả xét nghiệm và không nên từ chối điều trị nếu không có thử test. Bởi vì, thuốc kháng virut có hiệu lực cao nhất khi Tiến hành dùng sớm sau lúc khởi phát các triệu chứng (trong vòng 2 ngày đầu tiên). Việc thử test không phải lúc nào cũng sẵn sàng trong 1 số trường Hợp và thường đợi vài ngày mới có kết quả xét nghiệm.

PV:Cúm mùa trong đó có cúm A/H1N1 có thể bộ phận ngừa ra sao? Có nên tiêm vắc-xin bộ phận cúm và thời điểm nào tiêm là đúng, thưa bác sĩ?

PGS.TS.BS. Lưu Thị Hồng: Vắc-xin phòng cúm có hai loại dạng tiêm và dạng xịt mũi. Loại tiêm (chứa virut chết) là loại phổ biến cho người to và trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên. Loại xịt mũi (chứa virut sống giảm độc lực) chỉ dành cho người khỏe từ hai tuổi trở lên đến 49 tuổi. Phụ nữ có thai và người có sức đề kháng kém (suy giảm miễn dịch) hay có bệnh mạn tính không nên dùng loại chứa virut còn sống. Tuy nhiên cần lưu ý, tiêm vắc-xin cúm hàng năm chỉ có hiệu quả chống lại bệnh cúm theo mùa và không bảo vệ được lúc có đại dịch cúm. Không tiêm vắc-xin cúm trong thời kỳ mang thai. Việc tiêm vắc-xin cúm phải thực hiện trước lúc có thai vài tháng. Ví dụ chuẩn bị vài tháng nữa có thai thì đi tiêm vắc-xin.

Đối với những phụ nữ chưa tiêm bộ phận cúm nhưng đã có thai, để đề phòng căn bệnh này cần tránh xa các nguồn lây như hạn chế đi tới những nơi công cộng đông người, khi đang mùa dịch, rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc đồ vật hay người bệnh nếu như phải tới chỗ đông người nên đeo khẩu trang... là các biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa bệnh. Nâng cao sức đề kháng như ăn uống đủ dinh dưỡng, nâng cao cường bổ sung vitamin C, dầu cá, các vitamin nhóm B,... Khi đi tới vùng dịch cúm gia cầm hoặc cúm A, cần phải cách ly và theo dõi sát sao các triệu chứng bệnh. Điều này là cần phải có để ngăn ngừa dịch bệnh bùng phát trong cộng đồng và cũng là cách hiệu quả nhất bảo vệ người thân cũng như gia đình.

PV: Nếu không may nhiễm cúm, thai phụ cần làm gì?

PGS.TS.BS. Lưu Thị Hồng: Đối với thai nhi, ví dụ đã qua 3 tháng đầu thai kỳ mà mẹ nhiễm cúm thì không phải lo ngại quá. Thai phụ cần phải đưa đi khám bác sĩ để nhận được giải đáp và điều trị thích hợp. Thai phụ có thể nghỉ ngơi nhiều hơn, ăn uống bồi dưỡng đầy đủ, uống thêm vitamin C, ăn nhiều hoa quả và khám thai theo định kỳ. Trong 3 tháng đầu của thai kỳ, nếu như nghi ngờ thai phụ bị nhiễm virut cúm, khám thai định kỳ, theo dõi phát triển của thai nhi và làm các xét nghiệm chẩn đoán trước sinh. Nếu thấy có hiện tượng những dấu hiệu nguy cơ thì sẽ chỉ định làm các xét nghiệm nhu yếu nữa, để xác định nguy cơ đối với thai mà cân nhắc việc chấm dứt thai kỳ hay không.

Tuy nhiên, khi phụ nữ mang thai mắc bệnh cúm, tuyệt đối không tự ý sử dụng thuốc và chữa theo kiểu kinh nghiệm dân gian.

PV:Xin cảm ơn PGS. TS. Lưu Thị Hồng!

Minh Thúy (thực hiện)

Dấu hiệu và cách xử trí trầm cảm sau sinh

Tỷ lệ trầm cảm sau sinh chiếm khoảng 15% trong 3 tháng đầu, 15 - 25% trong năm trước hết sau sinh. Trầm cảm sau sinh thường kèm theo ám ảnh sợ con mình sẽ bị hại và bản thân mình là người mẹ xấu (ý tưởng hoặc hoang tưởng tự buộc tội). Các dấu hiệu của trầm cảm sau sinh như bồn chồn, lo lắng bất an, ăn ngủ kém, chợt vui, chợt buồn... khiến sức khỏe suy giảm. Nếu không được phát hiện sớm, người mẹ có thể có hành vi làm hại bản thân hoặc người khác như tự sát, giết con...

Nguyên nhân gây trầm cảm sau sinh là do thay đổi về nội tiết, do giảm đột ngột estrogen, progestrogen và hormon tuyến giáp; Thay đổi về thể tích máu, huyết áp, hệ miễn dịch và chuyển hóa dẫn đến tình trạng mệt mỏi và dễ thay đổi cảm xúc; Mâu thuẫn gia đình, khiếu nại tài chính, thiếu sự giúp đỡ của người thân; Khó khăn trong chăm sóc trẻ. Nhiều bà mẹ cảm thấy căng thẳng, mất ngủ, lo lắng vào khả năng chăm sóc con, từ đó cảm thấy mất hứng thú sống và mất kiểm soát cuộc sống bản thân.

Những sự kiện gây căng thẳng trong thời gian trước lúc mang thai: bệnh tật, hiếm muộn, thất nghiệp; Thiếu sự giúp đỡ, thiếu sự đồng cảm chia sẻ của người thân, nhất là là người chồng; Mâu thuẫn vợ chồng, mâu thuẫn với mẹ chồng, người thân, đồng nghiệp...; Thai kỳ không mong muốn. Những phụ nữ mong muốn mình là người mẹ hoàn hảo, ít nhờ người khác trợ giúp trong việc chăm sóc trẻ khi cần yếu và quá để ý đến việc người khác đánh mức giá khả năng làm mẹ của mình dễ có xu hướng bị trầm cảm. Khi đó, người mẹ đã tự đặt cho mình quá nhiều áp lực và rất dễ bị trầm cảm. Mặt khác, thai phụ có nguy cơ cao mắc chứng trầm cảm sau sinh lúc trong gia đình có tiền sử bị trầm cảm (bố, mẹ, anh, chị em).Khi người mẹ có dấu hiệu trầm cảm sau sinh, cần có sự giúp đỡ của các bác sĩ tâm lý.

Khi người mẹ có dấu hiệu trầm cảm sau sinh, cần có sự trợ giúp của các bác sĩ tâm lý.

Một số triệu chứng của bệnh trầm cảm sau sinh: Cảm thấy mệt mỏi, vô lực, ngồi một chỗ hoặc nằm 1 chỗ. Cảm thấy không đủ khả năng chăm sóc con, không chăm sóc con, không cho con bú. Nhiều người cảm thấy chán nản, buồn rầu, đau khổ, vô vọng tăng dần sau khi sinh con, thậm chí khóc lóc cả ngày mà không có lý do cụ thể nào cả. Đôi lúc họ lại cảm thấy bị chồng, gia đình, bạn bè bỏ rơi. Những cảm giác này thường không có căn cứ.

Nhiều trường hợp không muốn tắm rửa, chải chuốt. Thiếu tự tin khi ra khỏi nhà, họ thậm chí khó có thể gặp gỡ những người bạn thân, từ chối trả lời điện thoại hay thư từ. Luôn cảm thấy lo âu, sợ hãi, sợ làm tổn hại con. Thường bị đau tại đầu và cổ, nhưng có người lại đau lưng, đau ngực, có thể có các vấn đề về tim. Bà mẹ có nhiều than phiền về sức khỏe, có cảm giác bị bệnh. Có cảm giác bồn chồn bứt rứt, đứng ngồi không yên. Đây cũng là một nhân tố dẫn đến hành vi tự sát. Mất hứng thú tình dục, xa lánh chồng (tình trạng này thường kéo dài 1 thời gian), ham muốn tình dục sẽ trở lại khi hết trầm cảm.

Mất ngủ, khó ngủ là triệu chứng thường gặp. Người bệnh có thể thao thức tới gần sáng hoặc không ngủ được. Có trường hợp ngủ không liên tục, hay bị thức giấc vào giữa đêm, thỉnh thoảng gặp ác mộng và không thể ngủ lại được. Nhưng cũng có khi người bệnh lại tăng nhu cầu ngủ và ngủ nhiều. Ăn kém, chán ăn, gầy sút cân, ngược lại cũng có trường hợp thèm ăn, ăn nhiều, nâng cao cân. Mất tập trung, không thể đọc sách, xem tivi hay chuyện trò bình thường. Trí nhớ kém và đôi khi không gần xếp được suy nghĩ. Họ có thể ngồi đó không làm gì, chỉ nghĩ rằng họ cảm thấy rất tồi tệ.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi người mẹ có dấu hiệu trầm cảm sau sinh, cần có sự giúp đỡ của các bác sĩ tâm lý. Bản thân người bệnh cần tin tưởng rằng mình sẽ rất tốt hơn, sẽ sớm phục hồi. Đau xuất hiện khá nhiều ở phụ nữ bị trầm cảm sau sinh và đó không phải là dấu hiệu của 1 bệnh nghiêm trọng. Có trường hợp bị nhức đầu lại nghĩ là bị u não, đau ngực là bị bệnh tim nên lo lắng làm tình trạng trầm cảm nặng thêm, vì vậy, thư giãn và quên đi đau đớn thì căn bệnh trầm cảm sẽ giảm dần.

Thai phụ bị trầm cảm cần nghỉ ngơi nhiều bởi vì mệt mỏi sẽ làm cho bệnh trầm trọng hơn. Tránh thức khuya và nên nhờ người khác cho con bú. Cần ăn uống đầy đủ vì nếu như hạ đường huyết cũng sẽ làm cho bệnh nặng nề hơn. Nên ăn nhiều trái cây và rau quả lúc cảm thấy đói.

Sự trợ giúp của người thân sẽ làm cho bệnh phục hồi nhanh, vì người bệnh luôn mệt mỏi nên không nên quấy rầy họ. Để người bệnh nghỉ ngơi nhiều, lúc đỡ mệt có thể làm những việc họ thích, nên có người thân tại bên cạnh người bệnh.

Điều trị bằng thuốc rất quan trọng, người bệnh cần được bác sĩ chuyên khoa tâm thần thăm khám và kê đơn thuốc. Thuốc chống trầm cảm thế hệ mới rất hiệu quả và tương đối an toàn. Nên kết hợp với vitamin và thuốc nâng cao cường tuần hoàn não. Tuy nhiên, thuốc có thể ngấm qua sữa nên rất tốt nhất không cho trẻ bú sữa mẹ.

Cần điều trị đủ thời gian để được phục hồi hoàn toàn. Nếu sau lúc ngưng thuốc mà các triệu chứng tái phát, nên tới bác sĩ tư vấn điều trị dứt điểm.

BS. Minh Đức (Bệnh viện 103)

Phòng ngừa chứng đau đầu do bệnh lý thần kinh

Nguyên nhân thường gặp là gì?

Đau đầu là triệu chứng do nhiều chứng bệnh không giống gây ra. Đau đầu là do sự xáo động trong các cấu trúc nhạy cảm đau trong đầu. Bản thân bộ não không nhạy cảm với đau, vì nó không có thụ thể cảm nhận đau. Một số vùng trên đầu và cổ có các cấu trúc nhạy cảm đau. Các cấu trúc đó được chia làm 2 loại: trong sọ (mạch máu, màng não, các dây thần kinh sọ) và ngoài sọ (màng ngoài xương sọ, cơ, dây thần kinh, động mạch và tĩnh mạch, mô dưới da, mắt, tai, xoang và niêm mạc).

Do nhiều nguyên nhân vào môi trường, cuộc sống ảnh hưởng tới tinh thần tạo nên những cơn đau nhức đầu. Đau đầu có lúc chỉ thoáng qua nên dễ bị người bệnh bỏ qua, hoặc cũng có thể nó là một trong những triệu chứng của bệnh lý thần kinh và thường đau kéo dài. So với các chứng đau đầu khác, đau đầu do các bệnh lý thần kinh có những dấu hiệu để nhận biết sớm.

Những dạng đau đầu liên quan đến bệnh lý thần kinh

Đau đầu do tăng huyết áp: Chứng đau đầu do tăng huyết áp thường gặp tại người có bệnh lý tăng huyết áp, đi kèm nhân tố hay bị  căng thẳng, stress trong công việc, cuộc sống, thì nguy cơ đau đầu càng cao. Chứng đau đầu này thường đột ngột, dữ dội. Đau đầu khu trú nhiều ở vùng chẩm, trán. Bệnh nhân có cảm giác cứng các cơ gáy, đau lên đỉnh đầu và có thể lan tới vùng trán, thường đau nhiều về ban đêm.

Tinh thần tha hồ là liều thuốc rất tốt nhất để bộ phận bệnh đau đầu.

Nguyên nhân đau đầu ở bệnh nhân tăng huyết áp là do áp lực thường xuyên của dòng máu lên trên thành mạch tăng làm cho thành mạch bị giãn dần ra và có hiện tượng những tổn thương. Những tổn thương này càng ngày nâng cao ở các mạch máu nhỏ tại não gây ra hiện tượng đau đầu. Bệnh nếu như để muộn dễ gây ra các biến chứng tắc mạch máu não... Người bệnh nâng cao huyết áp cần cảnh giác với những cơn đau đầu, để phòng biến chứng hiểm nguy có thể xảy ra.

Đau đầu do u não: Chứng đau đầu do u não rất đáng sợ. Người bệnh bị u não, do u gây nâng cao áp lực nội sọ nên đau đầu tại giai đoạn đầu thường âm ỉ, kéo dài. Giai đoạn sau kèm buồn nôn, giảm thị lực hoặc các dấu hiệu của thần kinh khu trú như liệt chi thể, liệt dây thần kinh sọ não, mắt mờ. Lúc này là đau đầu liên tục dữ dội và uống thuốc giảm đau cũng không giảm.

Đau đầu do viêm màng não: Viêm màng não là bệnh do virut, vi khuẩn gây ra. Nếu do virut gây nên thì bệnh có thể khỏi trong vòng vài ngày còn nếu là vi khuẩn gây nên thì sức khỏe bệnh nhân có thể diễn tiến trầm trọng. Đau đầu nghiêm trọng là một triệu chứng của bệnh viêm màng não. Ban đầu cơn đau đầu chỉ ở mức độ vừa nhưng tăng dần cường độ. Sau đó người bệnh thấy đau đầu dữ dội, uống thuốc không giảm, kèm các biểu hiện cổ cứng, ói, sợ ánh sáng, sốt cao.

Đau đầu do dị dạng mạch máu não: Dị dạng mạch máu não là hiện tượng các mạch máu bất thường, rối loạn trong não. Những dị dạng mạch máu này khi vỡ gây chảy máu não. Đây là 1 căn bệnh bẩm sinh và hết sức nguy hiểm. Dị dạng mạch máu não có thể gây ra xuất huyết não, động kinh, nặng có thể hôn mê và tử vong. Nếu bạn còn trẻ tuổi hay bị đau đầu dữ dội, đã đi khám bệnh và dùng nhiều loại thuốc không có kết quả, có thể bạn mắc phải chứng dị dạng mạch máu não. Trong trường hợp này, bạn cần đi chụp mạch não để xác định chẩn đoán. Đau đầu là 1 triệu chứng của bệnh lý dị dạng mạch máu não. Cơn đau có diễn tiến âm ỉ, dai dẳng, đôi lúc bùng lên cơn đau dữ dội có thể kèm theo liệt run.

Đau đầu do xuất huyết não (đột quỵ): Đây là dạng đau đầu đột ngột, cơn đau dồn dập khủng khiếp và có thể liệt nửa người, hôn mê nhanh. Xuất huyết não là bệnh khởi phát đột ngột và dữ dội. Bệnh nhân có thể bị xuất huyết não ngay trong khi làm việc, sinh hoạt bình thường, thậm chí ngay cả trong lúc ngủ cũng có thể hứng chịu cơn xuất huyết não.

Người bệnh nên làm gì khi bị đau đầu?

Đau đầu là chứng bệnh hay gặp, song song cũng dễ bị người bệnh bỏ qua và coi đó là bệnh lặt vặt. Tuy nhiên, chứng đau đầu có các biểu hiện khác nhau và người bệnh cần phân biệt được các dấu hiệu đau do bệnh lý. Khi bị đau đầu mà cơn đau đầu ngày càng dữ dội với mức độ nâng cao dần thì người bệnh cần cảnh giác và nên nghĩ tới chứng đau đầu đi kèm bệnh lý và nên đi khám bác sĩ ngay, làm các thăm dò chức năng cần thiết để xác định bệnh và có liệu pháp điều trị phù hợp. Để việc điều trị bệnh hiệu quả, người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ. Bệnh nhân không tự ý dùng thuốc điều trị đau đầu dạng này, vì với các bệnh lý thần kinh của não bộ, việc sử dụng thuốc bừa bãi sẽ để lại hậu quả lâu dài, không thể lường hết được. Dùng thuốc bừa bãi khiến bệnh không thuyên giảm mà còn diễn tiến nặng hơn, rất nguy hiểm.

Lời khuyên của thầy thuốc

Bên cạnh việc dùng thuốc, để phòng chứng đau đầu (vì bất kỳ nguyên nhân gì), người bệnh cần lưu ý các liệu pháp như: cần sự thay đổi lối sống, cách làm việc hiệu quả, tinh thần thoải mái là liều thuốc rất tốt nhất để phòng bệnh. Việc trảo đổi lối sống cần vận dụng trước tiên là ăn chế độ ăn lành mạnh và giữ cân nặng hợp lý, trong tầm kiểm soát. Người bệnh cũng cần được điều chỉnh khẩu phần ăn, tránh ăn những thức ăn có thể gây khởi phát cơn đau nửa đầu (tôm, cua, cá, sò, ốc, chocolate, ca cao, pho mát, bơ hoặc uống 1 số thức uống có cồn). Những người có hút thuốc, uống rượu, béo phì... thường có khuynh hướng dễ bị đau đầu hơn. Nếu trong cuộc sống không thể tránh khỏi stress, bạn hãy học cách giải quyết và hóa giải stress tốt hơn. Nên giảm áp lực công việc, tránh những căng thẳng, cải thiện giữ cho mình có một tinh thần lạc quan yêu đời. Chuyên cần tập luyện thể dục thể thao, đi bộ, yoga, dưỡng sinh, khí công... Hãy học cách thư giãn, thể dục nhẹ trước khi đi ngủ để có giấc ngủ rất tốt hơn, cải thiện ngủ đúng giờ, tránh ngủ ngày quá nhiều để có được giấc ngủ ngon và bộ phận ngừa đau đầu hiệu quả.

BS. Hùng Thuận